Lịch sử Hoàng gia Anh 6: Con hoang thì được làm vua

Phần trước, vua “Giáo sĩ Edward” trước khi ngắc ngoải thì nhường ngôi cho Harold đẹp trai thay vì cho Williams – Công tước xứ Normandy – như đã hứa. Sự tình sau đấy ra sao?

Để trận choảng nhau giành ngôi vua thêm phần chi tiết, hấp dẫn; chúng ta hãy tìm hiểu một chút về ông Williams của xứ Normandy nào.

Bây giờ thì nhiều người biết đến William với biệt danh “William kẻ chinh phục” (William The Conquerer), nhưng cái biệt danh đấy là mãi sau này ông mới có, lúc đầu ai cũng gọi ông là “Thằng con hoang William”.

Hình minh họa vua William với biệt danh “Bastard” (con hoang)

Vào năm 1066, chức vụ Công tước xứ Normandy chẳng khác gì vua xứ Normandy. Như đã biết trong bài về Alfred vĩ đại, người Vikings chiếm vùng đất này trên lãnh thổ nước Pháp. Vua Pháp lúc đó cũng chẳng phải… vua Pháp. Mãi đến năm 1181, Philippe Auguste mới bắt đầu lấy danh hiệu “Rex Franciae” (King of France – vua Pháp), chứ trước đấy thì vua Pháp chỉ là “Rex Francorum” (King of the Franks – vua của người Franks). Bởi vậy, người Normandy chả có lý do gì để khoái người Franks, người Burgundians, người Lorraines… cả, dù về sau mấy xứ này đều thống nhất thành Pháp.

Robert – Công tước xứ Normandy và cũng là bố của William – thuộc dạng “thích là phải nhào vô túm lấy”. Ngày đẹp trời nọ, ông “vi hành” và bắt gặp một cô gái xinh xắn. Tên cô này khác nhau tùy theo sách sử mà bạn đọc (có sách nói cô tên là Herleva, có sách đề tên Harlotta, có sách lại ghi Arlot… để tiện thì cứ gọi cô là Herleva cho rồi). Theo truyền thuyết do người Anglo-saxon bịa ra để chọc tức dân Norman, Robert bắt cóc Herleva và giở trò đồi bại. Còn thực tế hơn thì Robert có đến thưa chuyện với bố của Herleva. Ông bố đòi Robert phải cưới con gái mình, nhưng Robert không chịu. Lý do vì cô gái đẹp này làm nghề thuộc da, mà nghề đó thời bấy giờ là nghề thấp hèn nhất (vì lúc ấy bạn phải dùng hỗn hợp pha từ nước tiểu, mỡ động vật, phân chó… để thuộc); nên Robert không cưới
Herleva được, chỉ có thể đem cô vào lâu đài dưới danh nghĩa thê thiếp. Ông bố hậm hực, “Thôi thì đành làm thiếp”.

Herleva hạ sinh cho Robert thằng con trai William. Do bố mẹ không kết hôn theo pháp luật nên từ nhỏ William đã chết biệt danh ucon hoang”. Chính vì William bị người đời ghẹo nên đến khi bố Robert mất và không có con
chính thức, William thừa kế danh hiệu Công tước xứ Normandy, ông luôn muốn chứng tỏ cho toàn dân biết rằng đứa con hoang cũng có thể thành người vĩ đại.

Thành thử, lúc bị Edward giáo sĩ cho leo cây vụ ngai vàng nước Anh: ông hẳn học đem quân tới xứ sương mù đòi đánh chiếm (chứ ông khác là chỉ cau có ngồi yên vị ở Normandy rồi rủa thầm, đi đánh đám người Franks cho gần, đánh chi tới nước Anh xa lắc).

Tuy William hung hăng nhưng ông rất khôn, không hề suy nghĩ theo kiểu lôi lính đi đánh cho đến khi nào “chúng nó” chết mới thôi. Khi biết William và Harold gầm gừ nhau, một vị vua người Viking tên Hardrada thừa nước đục, đòi cầm quân chiếm nước Anh. Thế là Williams đổ bộ lên bờ biển phía Nam của xứ sương mù, gần thị trấn Hasting, và… ngồi đó chờ. Quân của vua Harold Goodwinson hùng hồ đi đánh Hardrada trước, Harold thắng: chưa kịp nghỉ, đoàn quân phải lũ lượt kéo đến Hasting để uýnh William tiếp.

Phe của William thì quá khỏe, vừa chẳng đánh ai vừa ngồi vắt vẻo mấy ngày: còn lính tráng của Harold thì mệt đứt hơi sau trận chiến với Hardrada. Khỏi nói cũng biết, William chiến thắng, lên làm vua nước Anh. Triều đại Anglo-Saxon chấm dứt, thay vào đó là triều đại Normandy.

“William kẻ chinh phục” không phải là một vị vua được dân chúng yêu mến. Dân của xứ sở này đã quen với triều đại Anglo-saxon: Vua Harold Goodwinson thì vừa đẹp trai vừa tốt bụng, nên họ căm thù ông vua mới đến từ Normandy kinh khủng. Thế là William phải liên tục dùng vũ lực để ép người dân y lệnh của mình. Người xưa còn ghi chép lại rằng, cư dân của nhiều làng mạc đã rủ nhau trốn vào rừng, chấp nhận sống trong đói kém chứ quyết không chịu trả thuế cho ông “con hoang” kia.

Tuy nhiên, nếu nhìn theo con mắt của thời nay, thì William làm được hai việc tốt:

  1. Nhằm giảm tối đa các trường hợp trốn thuế, khai gian của cải vì “ghét thẳng Vua mới”, William ra lệnh cho “các ban ngành đoàn thể” của mình đi tới từng nhà, ghi chép lại toàn bộ của cải của một gia đình (ví dụ như: số lượng nô lệ, cừu, ngựa, bò, gia vị mắm muối, vải vóc quần áo…); phải lùng sục hết những chỗ “có khả năng giấu của”. Sau đó lên danh sách rồi bắt đầu dựa vô đấy để mà đánh thuế. Ngày nay, những ghi chép ấy trở thành các tài liệu vô cùng giá trị.
  2. William đem ngôn ngữ vùng Normandy (tiếng Viking cổ lai tiếng Pháp, gọi là Franco-Norman) đến Anh. Nhưng người dân xứ này đã quen nói tiếng Anglo, nên họ không nói được tiếng mới; William cố học tiếng bản địa nhưng cũng không thành. Người Anglo và người Norman cũng nhất quyết không chịu chuyển hẳn sang một thứ tiếng. Tuy nhiên: sống riết với nhau thì hai bên cũng bập bẹ được đôi chữ để trao đổi buôn bán, tiếng
    Anglo từ từ lai tiếng Franco-Norman, trở thành một ngôn ngữ mới: dễ học hơn, dễ điều chỉnh hơn, và đặc biệt là có ngữ pháp đơn giản hơn. Đó là tiếng Anh mà con nít nước ta đang phải è cổ học thêm.

Vài nhà ngôn ngữ (nhất là mấy ông Pháp), hay chê rằng tiếng Anh không phải là thứ tiếng quý-xờ-tộc, là ngôn ngữ có gốc từ một đứa con hoang. Quả thực, tiếng Anh ít rườm rà, ít câu nệ hơn, chính vì vậy mà nó dần chiếm thế thượng phong. Dù mắng William hay tiếng Anh là con hoang cỡ nào đi nữa thì giờ đây nhiều người phải xài tới nó, cuối cùng, William vẫn thắng thế!

Tặng ông con hoang, bức tranh thêu quý nhất

Trong phần trước, chúng ta đã biết: con hoang William thì được làm vua, con sãi ở chùa thì quét lá đa. Để chúc mừng chiến thắng, ai đó đã làm tặng vua William một bức tranh thêu to vật vã. Nói “ai đó” là vì đến giờ chưa nhà nghiên cứu nào biết chắc được tên tuổi của nhân vật đã đặt hàng bức tranh thêu này. Đa số ngả theo giả thuyết ông em cùng mẹ khác cha của William là Odo đã đặt thêu bức tranh; lý do vì Odo làm giám mục, và người ta tìm thấy bức tranh thêu trong nhà thờ của Odo. Nhưng nói thế chả khác nào nói tượng Pharaoh là do người Anh đặt hàng vì nó nằm ở Bảo tàng Anh; có thể sau khi William băng hà, Odo đem bức tranh đó về nhà thờ cất thôi.

Tác phẩm vĩ đại này có tên “Bức tranh thêu Bayeux” (đặt tên theo huyện Bayeux), nó dài gần 70 mét, và là bức tranh thêu lớn nhất còn sót lại từ thời Trung cổ. Nó quý đến nỗi, Pháp đã lập nên một bảo tàng riêng cho nó – bảo tàng Musée de la Tapisserie de Bayeux – nằm ở Normandy (tất nhiên).

Một phần của bức tranh thêu tại bảo tàng.

Bức tranh thêu lại những hình ảnh của trước và sau cuộc chiến ở Hasting, bắt đầu từ Edward giáo sĩ và kết thúc khi Harold Godwinson bại trận. Thời Cách mạng Pháp; quân đội xém cắt nhỏ nó ra để… đậy vũ khí, nhưng may mắn là họ sớm phát hiện ra giá trị của nó.

Sau khi biết sử, chúng ta có thể hiểu tường tận hơn những hình thêu trên bức tranh này rồi. Cùng học nào!